Phần I
- Tỉ lệ tự túc lương thực, thực phẩm của Nhật Bản là 40%
- Khối lượng gạo một người Nhật tiêu thụ trong 1 năm là 61.4kg (năm 2005) trong khi năm 1965 là 111.7kg
Điều này thể hiện sự thay đổi về cuộc sống sinh hoạt của người Nhật chuyển từ ăn gạo là chính sang sinh hoạt kiểu phương Tây: ăn bánh mì và các thức ăn khác.
- Mỗi ngày một người Nhật lãng phí 47.3 gram thực phẩm.
- Số lao động trong lĩnh vực nông nghiệp của Nhật là 268 vạn người (năm Heisei 17)
Vấn đề nguy cơ lớn nhất đối với nền nông nghiệp của Nhật là vấn đề người lao động trong vấn đề này. Cụm từ “sanchan” (三ちゃん): jiichan (じいちゃん), Bachan (ばあちゃん), Kachan (かあちゃん) (ông, bà, mẹ) ra đời và được sử dụng rộng rãi từ năm Showa 40 trở đi. Nó có ý chỉ những người trẻ trong độ tuổi lao động lựa chọn nghề khác chứ không chọn nông nghiệp và lực lượng lao động làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp chủ yếu là người già và phụ nữ ( ông bà, mẹ). Lao động trong lĩnh vực nông nghiệp giảm đồng thời diện tích đất nông nghiệp bỏ hoang tăng lên, đất canh tác thu hẹp lại. Xu hướng độ tuổi lao động ngày càng cao và số lượng ngày càng giảm là đặc điểm của nông nghiệp Nhật.
Độ tuổi trung bình của người lao động chủ yếu trong lĩnh vực nông nghiệp năm Heisei 17 là 57.4% gấp 3 lần số liệu vào 20 năm trước đó( năm showa 60).
Robinson dịch từ 数字で読む日本、川上 和久
扶桑新書, 2009
扶桑新書, 2009
---
Phần II
Theo kết quả nghiên cứu của nhà khoa học Kito Hiroshi dân số Nhật qua các thời đại như sau:
Thời Jomon: chừng 10 vạn đến 26 vạn.
Thời Yayoi: 60 vạn.
Thời Nara: 450 vạn
Thời Heian: ( năm 900): 550 vạn
Năm 1600: 1220 vạn người
Thời Edo: 3100 vạn
Thời Minh trị trở đi dân số tăng ghê gớm.
1872: 3480 vạn
1912: 5000 vạn
1936: 6925 vạn.
Lí do từ thời Minh Trị dân số tăng mạnh là do: cả công nông nghiệp sản xuất phát triển, tỉ lệ trẻ sơ sinh tử vong giảm, thu nhập đời sống quốc dân tăng, tiêu chuẩn vệ sinh tăng ( dẫn đến tỉ lệ trẻ tử vong thấp).
Trong chiến tranh thế giới 2 có hàng trăm vạn người Nhật chết. Nhưng sau chiến tranh thế giới hai thì:
Bùng nổ giai đoạn 1: 1937- 1947
Đến năm 1948 :8000 vạn người.
1956: 9000 vạn người
1967: Đạt mức 100 triệu người.
Tuy nhiên sau giai đoạn bùng nổ thứ hai 1971-1974 thì giảm
Tỉ lệ gia tăng dân số năm 1986 là 0.5%
2003: 0.10%
Kết quả là dân số suy giảm. Trong năm 2007 dân số nhật giảm 1 vạn 9 ngàn người.
Robinson dịch từ数字で読む日本、川上 和久
扶桑新書, 2009
扶桑新書, 2009
---
Phần III
Tỉ lệ người làm chủ (có quyền bỏ phiếu) tăng từ 1.1%( Năm Minh trị thứ 23) lên 79.7%.
Năm 1881 quốc hội thời Minh trị ra đời.
Năm 1889 hiến pháp được công bố.
Khi đó người có quyền được bỏ phiếu phải hội đủ tiêu chuẩn: là con trai trên 25 tuổi và có đóng thuế trực thu cho quốc gia là 15 yên trở lên
Vào năm sau tức năm Minh trị thứ 23 trong cuộc bầu của chủng nghị viện thì tỉ lệ đi bỏ phiếu là 93.7% nhưng số người đi bỏ phiếu chỉ có 45 vạn người tức là chỉ chiếm 1. 1% dân số.
Trải qua nhiều thay đổi thì đến lần bầu của chủng nghị viện lần thứ 16 đã thực hiện được phổ thông đầu phiếu cho nam giới. Phải đợi đến năm 1945 quyền này của phụ nữ Nhật mới được công nhận. Người đi bầu là công dân từ 20 tuổi trở lên, người được bầu là người trên 25 tuổi trở lên.
Tiền lương chi trả cho mỗi nghị viên hàng tháng khoảng 133 vạn yên, tiền thưởng là 635 vạn yên, tổng thu nhập hàng năm khoảng 2200 vạn yên (20.200.000 yên)
Ngoài khỏan tiền lương nói trên thì còn được cấp một khoản kinh phí cho việc giao thông liên lạc」khoảng 1triệu yên/tháng (một năm khoảng 1.200 000 yên). Tiền chi phí lập pháp là 65 vạn yên( một năm khoảng 780 vạn yên).
Tóm lại một nghi viên sẽ có thu nhập khoảng 4200 vạn yên/năm (4, 2 triệu yên)
Và không phải chỉ có thế mỗi một nghị viên còn có hai thư kí công(公設秘書) và một thư kí chính sách(政策秘書)được hưởng lương nhà nước với mức khoảng 2.700.000 yên/năm.
Tổng cộng mỗi nghị viên được trả khoảng 7000 vạn yên/năm.
Robinson dịch từ数字で読む日本、川上 和久
扶桑新書, 2009
扶桑新書, 2009
---
Phần IV
Số tiền một gia đình ở Nhật chi phí cho một tháng là 261.526 yên.
(theo số liệu điều tra của bộ nội vụ năm Heisei thứ 19).
Trong đó chi phí được phân bổ như sau:
Lương thực-thực phẩm: 22.9%
Chi phí giao thông liên lạc: 12.8%
Chi phí thưởng thức văn hóa: 10.8%
Chi phí cho chỗ ở 7.4%
Phí điện nước:7.1%
Phí giáo dục: 3.5%
Phí bảo hiểm y tế: 4.2%
Phí mua quần áo giày dép: 4.4%
PHí mua đồ gia dụng: 3.2%
Các chi phí khác: 23.7%
Chi phí giáo dục cho một học sinh từ lúc đi học cho đến hết cấp ba (tính cả công lẫn tư) là trên 5.700.009 yên.
Trong cuộc điều tra do đại học Tokyo tiến hành với đối tượng là sinh viên Todai (đại học Tokyo) năm 2005 cho thấy số học sinh có cha mẹ có thu nhập ở mức trên 950vạn yên /năm là 50.7% (trên một nửa số sv). Số có cha mẹ có mức thu nhập trên 1550vạn yên/năm từ năm 1990 chiếm khoảng 10%. Số học sinh có cha mẹ với thu nhập chưa đầy 450 vạn yên /năm chiếm 13.7%.
Khi nhìn vào số liệu trên và so sánh với thu nhập bình quân của các gia đình có con từ 18-22 tuổi thì thấy rằng sinh viên của Todai đa phần là con cái của những gia đình khá giả. Đây là bằng chứng cho câu nói “để có học vấn tốt thì cần đến nhiều tiền”.
Vì thế nỗi lo lắng về chi phí giáo dục đã có ảnh hưởng đến tỉ lệ sinh suy giảm ở Nhật.
Vậy thì trên thực tế chi phí liên quan cho một đứa trẻ hết bao nhiêu?
Để phục vụ cho nghiên cứu, thiết lập chính sách năm 2006 bộ giáo dục đã tiến hành cuộc điều tra có tên gọi “Điều tra về học phí của học sinh”. Cuộc điều tra nhằm thống kê số tiền học phí của một học sinh từ lúc vào nhà trẻ cho đến khi tốt nghiệp trung học phổ thông theo phân biệt công và tư.
Cho dù học sinh từ mẫu giáo đến trung học đều học trường công lập đi nữa thì số tiền học phí trung bình cũn là khoảng 5.709. 177 yên. Nếu như từ nhà trẻ đến trung học mà đều học trường tư thì chi phí lên khoảng 16. 783.816 yên( tức là gấp 3 lần). Như vậy cho dù ở trừơng hợp nào đi nữa thì mỗi một học sinh từ nhà trẻ đến tốt nghiệp trung học phổ thông sẽ mất chi phí khoảng trên 5.700.000 yên.
Người Nhật coi trọng giáo dục vì lo cho tương lai con cái nên học coi “chi phí giáo dục như là thánh địa” (教育費は聖域)
Robinson dịch từ 数字で読む日本、川上 和久
扶桑新書, 2009
扶桑新書, 2009
---
Phần V
Theo số liệu điều tra năm 1993 thì đối với thứ tiếng được coi là quốc ngữ số người sử dụng nhiều nhất là tiếng TQ: khoảng 1 tỉ người.
Tiếng Anh: 350 triệu.
Spanish: 250 triệu.
Hindi: 200 triệu.
Tiếng Nhật: 120 triệu(Đứng vị trí thứ 9 trên thế giới trên cả tiếng Đức và tiếng Pháp)
Vậy thì số người dùng tiếng Nhật với tư cách không phải là tiếng mẹ đẻ là bao nhiêu?
Theo số liệu điều tra năm 2006 thì số lượng người nước ngoài học tiếng Nhật là khoảng 298 vạn người. Ở thời điểm 2006 giáo dục tiếng Nhật diễn ra ở 126 nước, 7 khu vực. Tuy nhiên con số người học dao động vì có nhiều người tự học qua radio, ti-vi hay học theo gia sư.
Tính theo quốc gia thì số người theo học đông nhất là Hàn Quốc: 91 vạn (chiếm 30.6% số người học tiếng Nhật trên toàn thế giới).
Thứ hai là người Trung Quốc: 68 vạn người( 23%).
Thứ ba là úc: 37 vạn người( 12.3%).
Thứ tư là indonesia: 27.3 vạn người
Thứ năm là Đài Loan: 19.1 vạn.
Tính trung bình ở Hàn quốc cứ 52 người thì có 1 người học tiếng Nhật, ở Úc cứ 55 người thì có một người học tiếng Nhật.
Hiện tại ở Liên Hợp quốc các thứ tiếng chính thức được dùng là : Anh, Ả -rập, Tây Ban Nha, Pháp, Nga, Trung. Và như vậy tiếng Nhật chưa hề có vị trí.
Robinson dịch từ 数字で読む日本、川上 和久
扶桑新書, 2009
扶桑新書, 2009
---
Phần VI
Người Nhật vốn được coi là người chăm chỉ lao động. Tuy nhiên đấy cũng là lời chê “ con ong chăm chỉ”.
Tổng số giờ lao động của một người trong thời kì kinh tế hoàng kim năm 1960 là 2432 giờ/năm (mức cao nhất kể từ sau chiến tranh thế giới 2).
1975: 2064 giờ
Tháng 4 năm 1988 Luật tiêu chuẩn lao động ra đời quy định giờ làm việc tối đa trong một tuần là 40 giờ dẫn đến tổng giờ lao động là 2000giờ/năm
So với thế giới thì sao?
Tính trung bình ở Pháp, Đức là 1500 giờ/năm như vậy ở Nhật cho dù có xu hướng giảm song so với thế giới thì vẫn cao.
***********
Người Nhật cũng gọi Nhật là “quốc gia rừng”. Diện tích rừng chiếm 66% diện tích lãnh thổ đất liền.
Ở TQ là 14%
Mĩ: 32%
Anh :10%
Đức: 30%
Trung bình thế giới là : 30%
P/s: Thế ở VN diện tích rừng còn lại là bao nhiêu? Chả rõ thấy dân gian bảo bây giờ VN chẳng còn rừng mà làm tiều phu nữa nên Thạch Sach cũng gác búa làm Lý Thông hết rồi!
Robinson dịch từ 数字で読む日本、川上 和久
扶桑新書, 2009
扶桑新書, 2009

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét